Có được một mình đứng tên sổ đỏ nhà đất khi đã kết hôn?

24-12-2019, 12:08 | Kiến thức |

Hỏi: Mới đây tôi có mua được một mảnh đất và muốn một mình đứng tên sổ đỏ tài sản này, vợ tôi cũng đã đồng ý. Nhưng khi đến UBND xã nơi có đất để công chứng hợp đồng mua bán thì cơ quan này không đống ý vì vi phạm quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình.


Trong khi vợ chồng tôi đã đồng thuận về việc để tôi một mình đứng tên mảnh đất và có lập thành văn bản nội dung này. Vậy tôi muốn hỏi chúng tôi muốn công chứng văn bản thỏa thuận về việc đây là tài sản riêng, là nguồn thu nhập của riêng tôi thì phải đến cơ quan chức năng nào? Và liệu tôi có quyền được đứng tên một mình trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không khi giấy thỏa thuận này được công chứng?

Nguyễn Văn Thanh (Tây Ninh)

Luật sư tư vấn:

Thoả thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng đã được quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận thì thoả thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”.

Có được một mình đứng tên sổ đỏ nhà đất khi đã kết hôn?
Có được một mình đứng tên sổ đỏ nhà đất khi đã kết hôn?

Còn về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.

Như vậy, tài sản có được sau khi kết hôn đều được tính là tài sản chung của hai vợ chồng, trong đó có cả quyền đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất, nếu không có thỏa thuận trước hôn nhân.

Về việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì Giấy chứng nhận quyền sở hữu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”.

Căn cứ theo quy định của luật pháp hiện hành thì việc UBND xã nơi có đất từ chối chứng thực hợp đồng mua bán đất đối với ông Nguyễn Văn Thanh là hoàn toàn hợp lý, bởi ông không có văn bản thoả thuận chế độ tài sản của vợ chồng trước thời kỳ hôn nhân, không có văn bản phân chia tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và cũng không có giấy tờ chứng minh đó là tài sản riêng của ông. Trong trường hợp ông Thanh đứng tên một mình trên sổ đỏ hoặc muốn chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì có thể đến Văn phòng công chứng để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.


(Theo thoibaokinhdoanh)

Tin liên quan

[Xem thêm]